Những gia đình góp công vào phát triển cải lương

Sân khấu Cải lương là một thành tựu văn hóa tiêu biểu của người Việt Nam Bộ trong quá trình khai mở đất phương Nam. Thành quả này nhờ sự đóng góp của xã hội với nhiều cá nhân, trong đó có những gia đình đã có những đóng góp lớn cho sự hình thành, phát triển sự nghiệp văn hóa Cải lương Nam Bộ. Về phương diện đóng góp của gia đình cho tiến trình 100 năm Cải lương, không thể có thống kê đủ, nhưng một vài gia đình tiêu biểu được nêu trong bài viết là nhằm nhấn mạnh đến yếu tố truyền thống văn hóa gia đình mà nó là động lực quan trọng góp phần cho sự phát triển và duy trì những ngành nghề truyền thống, vốn có thể bị mai một trong tương lai.

Một trăm năm, sân khấu Cải lương đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm hai phương diện: văn hóa vật thể và phi vật thể. UNESCO đã công nhận Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới[1]. Có được thành quả ấy, biết bao người Việt có tên tuổi hay âm thầm, trực tiếp hay gián tiếp góp phần hình thành và phát triển văn hóa Cải lương Nam Bộ. Ngoài những cá nhân, những gia đình có nhiều thành viên và thế hệ có đóng góp cho sự phát triển văn hóa nghệ thuật dân tộc cần được tôn vinh, như: gia đình Nhạc Khị, gánh Đồng Nữ Ban, đoàn Việt kịch Năm Châu, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, gia đình chị em Năm Phỉ – Bảy Nam, gia đình nghệ sĩ Thanh Tòng…

Gia đình Nhạc Khị.

Trong những gia đình có truyền thống âm nhạc Cải lương, gia đình Nhạc Khị. Nhạc Khị, tên đây đủ Lê Tài Khí, sinh năm 1870, mất năm 1948. Sinh thời, ông có nhóm bản gọi là “Tứ Bửu” được lưu truyền trong sinh hoạt đờn ca Tài cho đến hôm nay, gồm: Ái tử kê(12 câu nhịp 4),Minh Hoàng thưởng nguyệt(18 câu nhịp 4), Ngự giá đăng lâu(14 câu nhịp 4) vàPhò mã giao duyên(12 câu nhịp 4). “Nhạc Khị là người tiên phong xây dựng phong trào ca nhạc Tài tử và ca ra bộ ở Bạc Liêu. Ông có công hệ thống hóa và chỉnh tu bài bản nhạc cổ ở Nam Bộ. Nhạc Khị cũng là người có công lớn trong việc đào tạo nhiều nhạc sĩ tên tuổi như: Ba Chột, Sáu Lầu, Mộng Vân, Trịnh Thiên Tư… tạo được lực lượng kế thừa cho các ban nhạc, phong trào đờn ca Tài tử, ca ra bộ và sân khấu Cải lương.”[2]. Về tài năng âm nhạc của nhạc sư Lê Tài Khí: “Ông (Hai Khị) có tài riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài cứ đến nhà, ban đầu ông giở mùng cho xem, chỉ thấy trống, kèn, chụp chõa trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi sa lon, ông Khị chun vô mùng, một “mình ên”, rồi bỗng nghe bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng như có cả bốn năm người hòa tấu: trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chõa lùng tùng xòa, các việc đều do một mình ông Nhạc Khị điều khiển.”[3]

(Cha con nhạc sư Lê Tài Khí (Nhạc Khị) và nghệ sĩ Lê Văn Túc (Ba Chột).
Cha con nhạc sư Lê Tài Khí (Nhạc Khị) và nghệ sĩ Lê Văn Túc (Ba Chột).

 

Ngoài việc ông đã có công góp phần tạo nên tài năng của nghệ sĩ Cao Văn Lầu, ông còn đào tạo thành công cho người con theo nghiệp đờn ca Tài tử là nhạc sĩ Lê Văn Túc (Ba Chột). Nghệ sĩ Lê Văn Túc sinh năm 1903, mất năm 1963. Sinh thời, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm để đời, là 2 bản Liêu giang dây Bắc và dây Oán, 16 câu nhịp 4. Ngoài ra, ông còn sáng tác nhiều bản khác: “Cảnh xuân, Hòa duyên, Huỳnh ba, Lưỡng long, Lý con sáo, Mẫu đơn, Nhật nguyệt, Ngũ quan, Tam quan nguyệt, Thuấn hoa, Tứ bửu Liêu thành, Vạn thọ…”. Ông còn cải tiến các bản: “Kim tiền bản, Ngự giá, Tẩu mã, Tô Vũ mục dương, Xuân nữ…” được sử dụng rất rộng rãi trong đàn ca Tài tử và trên sân khấu Cải lương. Về tài năng và sự nghiệp âm nhạc: “Chỉ tính riêng số lượng sáng tác phẩm cổ nhạc của ông cũng là một kho tàng vô giá. Không chỉ là tác giả nhiều giai điệu, nhạc phẩm mà nhạc sĩ Ba Chột còn là người sáng tạo nhạc cụ, đó là chiếc đàn sến ba dây được sử dụng hiện nay…”[4]

Nhạc sư Lê Tài Khí và nghệ sĩ Lê Văn Túc con ông, không chỉ là nhà soạn nhạc tạo ra rất nhiều bản nhạc nổi tiếng, thầy dạy đờn cho nhiều thế hệ thầy đờn mà còn là người có công tổ chức phong trào đờn ca Tài tử Bạc Liêu để từ phong trào này trở thành “mảnh đất ươm mầm” cho sự khai phá Vọng cổ và hình thành các ban nhóm nhạc Tài tử miền Tây. Sau này các tổ chức âm nhạc phát triển chuyên nghiệp thành các gánh, đoàn hát nhiều địa phương, đồng thời là nơi khởi nghiệp của những đại ban Cải lương như Đoàn Thanh Minh, Đoàn Kim Chưởng… Công lao của gia đình Nhạc Khị với nhạc Tài tử và sân khấu Cải lương to lớn cần được tôn vinh xứng đáng với sự đóng góp của dòng họ.

Gánh Đồng nữ ban. Ban nhạc Tài tử – Cải lương làng Đông Hòa, Tiền Giang có tên Đồng Nữ Ban vì tất cả các thành vên đều thanh nữ.

Về bà Trần Ngọc Viện (Ba Viện), cô ruột – chị của cha GS.TS. Trần Văn Khê, sinh năm 1888, mất năm 1944. Về tài năng âm nhạc, địa phương Vĩnh Kim còn câu truyền “Cô Ba Viện đờn tranh lảnh lót”. Mặt khác, “Cô Ba Viện biết nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều dụng cụ nhạc dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn Tỳ bà.[5]”. Bà còn đứng ra thành lập gánh hát với vai trò bầu gánh và đạo diễn. Trong gánh, ngoài bà còn một số người trong quan hệ thông gia: Nguyễn Tri Khương, Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Tri Ân. Tất cả đều sử dụng thành thạo các nhạc cụ cổ truyền… Trong đó, Nguyễn Tri Khương là người chuyên viết tuồng tích nổi bật là người em ruột tên Trần Văn Chiêu (Bảy Triều), một nhạc công nổi tiếng, là cha của GS.TS.VS Trần Văn Khê và quái kiệt Trần Văn Trạch. Sau này, tiếp nối sự nghiệp âm nhạc có GS. TS. Trần Quang Hải con trưởng của GS.

(Cô Ba Trần Ngọc Viện, (ngồi giữa hàng đầu, gác tréo chân) người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, cô ruột của GS.TS. Trần Văn Khê
Cô Ba Trần Ngọc Viện, (ngồi giữa hàng đầu, gác tréo chân) người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, cô ruột của GS.TS. Trần Văn Khê

Ông Năm Khương, cậu ruột GS. Khê sinh năm 1890, mất năm 1962. Về tài năng âm nhạc: “Mỗi nhạc khí, cậu bé Năm Khương đều được thầy khen là đờn có “ngón”, nhấn có “gân” và đặc biệt nhất là thổi sáo được thiên phú cho có hơi thổi vừa dài, vừa mạnh.[6]” Ngoài ra, ông còn là thầy tuồng cho gánh Đồng Nữ Ban. Từ quyển tiểu thuyết “Giọt máu chung tình” của Nguyễn Hữu Ngởi, năm 1926, ông Năm Khương đã phóng tác soạn ra vở cải lương “Giọt lệ chung tình”, nhắc lại chuyện tình bi hùng của Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà[7].

Ông Bảy Triều, cha ruột GS. Khê, sinh năm 1897, mất năm 1931. Ông có năng khiếu, lại sinh ra trong gia đình âm nhạc. Ông sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ: đàn kìm, đàn bầu, đàn cò… Về tài năng âm nhạc: “Ông giỏi cả đờn cò lẫn đờn bầu, đặc biệt xuất sắc ở ngón đờn kìm. Ông Bảy Triều chế ra cách lên dây tố lan còn truyền tụng cho đến ngày nay.”[8]. Về ông Bảy Triều, Vương Hồng Sển viết, Mỹ Tho có hai nhạc sĩ cùng tên khác thứ là Tư Triều và Bảy Triều. Tư Triều thiện nghệ cây kìm, nhưng thiên tài lỗi lạc thì kém Bảy Triều[9]. Học giả Vương Hồng Sển viết: “… Lúc vào trường Chasseloup năm 1912, Triều đã đờn kìm nhưng chưa giỏi. Sau nhờ ông Đội Hổ làm nghề gác cửa trường, có chơi đờn, nên Triều thường lên nhà concierge đờn và năng luyện tập thêm nên Triều đờn ngày càng phát…”[10]

GS.TS. Trần Văn Khê sinh năm 1921, mất năm 2015. “Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp. Ông còn thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Ông có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới.”[11] Với quyển “Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam”, GS giúp người đọc có được những hiểu biết nhất định về hát lô tô, hát sắc bùa, Quan họ, các làn điệu Lý, đến ca Trù, ca Huế, Đơn ca Tài tử, Hát chèo, Hát bội, Ca kịch bài chòi, Cải lương… rồi các hình thức nhạc trong các tôn giáo, như nhạc Lễ, Chầu Văn, Hầu văn… “Các bạn sẽ có dịp theo tôi trở về dĩ vãng để theo công cấy ra đồng nghe hò cấy, hay đi xem một buổi Hát bội trong làng Vĩnh Kim trong những năm 30. Có khi lại ra Huế dạo thuyền trên sông Hương nghe Hò mái nhì hoặc ra tận Bắc Ninh nghe hát Quan họ.”[12]
GS. TS. Trần Quang Hải, con trưởng của GS. Khê, sinh năm 1944. Sau khi tốt nghiệp khoa violin tại trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học các loại nhạc cụ dân tộc khác tại các trường đại học: Louvre, Sorbonne (Pháp), đại học Cambridge (Anh) và lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc. “Ông làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme) ở Paris, Pháp từ năm 1968, là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông có nhiều nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc học: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng, phát triển kỹ thuật biểu diễn đàn môi…”[13]

Gánh Đồng Nữ Ban tạo nên truyền thống âm nhạc của một gia đình, dòng họ. Đỉnh điểm của gia đình là GS. Trần Văn Khê, một nghệ sĩ lớn, một nhà nghiên cứu âm nhạc lỗi lạc của dân tộc và thế giới. Thế hệ trước ông, có 3 nghệ sĩ lớn, là cha ông, ông Bảy Triều – một nghệ nhân đàn nổi tiếng với ngón đàn được đánh giá tài hoa và điêu luyện; bên nội có cô ông, bà Ba Viện nghệ nhân đàn tranh, nhưng bà còn là một Bầu gánh và kiêm đạo diễn; bên ngoại có cậu ông, ông Năm Khương là “chuyên gia” của các loại đờn dân tộc, là thầy tuồng, viết kịch bản cho đoàn hát. Thế hệ sau ông, có con ông là GS. TS. Trần Quang Hải, một nghệ sĩ, một nhà khoa học, nhà nghiên cứu nối tiếp sự nghiệp to lớn của người cha góp phần tô điểm thêm vinh quang cho gia đình và dòng họ Trần, Nguyễn đất Đông Hòa – Vĩnh Kim.

Đoàn Việt kịch Năm Châu.

Đoàn Việt kịch do một nghệ sĩ nổi tiếng tài hoa thời bấy giờ vừa là diễn viên chính vừa là nhà lãnh đạo đoàn hát, nghệ sĩ, soạn giả kiêm bầu gánh Nguyễn Thành Châu (Năm Châu), người làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho, sinh năm 1906, mất năm 1978. Nhắc tên những nghệ sĩ tiền phong có công khai sáng thì tên tuổi của nghệ sĩ Năm Châu được ghi nhận với tài năng một kép chính sáng giá, nhờ ngoại hình đẹp trai, lẫn giọng ca trời phú, với vai An Lộc Sơn trong vở tuồng “Trường Hận”. Ông còn có tài năng sáng tác, đạo diễn qua nhiều vở tuồng: “Anh hùng náo Tam môn giai, Duyên chị tình em, Đóa hoa rừng, Miếng thịt người, Nước biển mưa nguồn, Tây Thi gái nước Việt, Thái tử Hàm Lệ, Túy Hoa vương nữ, Vợ và tình…”. “Năm 1923, anh Năm Châu đã là kép chính sáng giá nhất của ban cải lương Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Anh là người tài giỏi, có ý chí và luôn nhìn xa trông rộng, nắm bắt tình thế để ứng biến cho nghề, cho sân khấu một cách thần thông.[14]”. Trong gia đình Năm Châu, công chúng biết cặp đào kép ăn khách Năm Châu – Sáu Trâm với hai vai diễn ấn tượng Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà trong vở Giọt máu chung tình. Sau nghệ sĩ Năm Châu kết hôn với nghệ sĩ Tư Sạng, đệ nhất danh ca và sanh nghệ sĩ Thanh Hương có giọng ca thiên phú giống mẹ.

Phùng Há, Thanh Nga, Năm Châu trong Vợ và Tình của Nguyễn Thành ChâuPhùng Há, Thanh Nga, Năm Châu trong Vợ và Tình của Nguyễn Thành Châu
Phùng Há, Thanh Nga, Năm Châu trong Vợ và Tình của Nguyễn Thành Châu

Cô Tư Sạng tên thật Đoàn Thị Sạng, người làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho, sinh năm 1911, mất năm 1955. Mặc dù trong gánh hát Trần Đắc, bà được xếp đào nhì, sau nghệ sĩ Phùng Há; nhưng trên địa hạt dĩa nhựa, bà được các ông chủ hãng dĩa và giới thính giả mộ điệu tặng danh hiệu “đệ nhất danh ca nữ”. Cô được giới khán giả sân khấu và thính giả dĩa nhựa mến mộ qua các dĩa tuồng: Hạnh Ngươn cống Hồ, Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều, Lưu Yến Ngọc cứu cha, Trang Tử Cổ Bồn ca… “Bà nổi tiếng khi ca những bài ca tâm sự của phụ nữ sầu tình, lỡ làng duyên phận hoặc thân gái trong nghịch cảnh khổ đau. Dĩa hát nào có giọng ca của danh ca Tư Sạng là bán rất chạy, phải nhiều lần tái sản xuất. như: Đào Tam Xuân phục hận, Đêm khuya trông chồng, Hoa rơi cửa Phật (tức Lan và Điệp), Mẹ dạy con, Tô Ánh Nguyệt, Trảm Trịnh Ân, Xử án Bàng Quý Phi…,.[15]”.

Nữ nghệ sĩ Thanh Hương tên thật Nguyễn Thị Thanh Hương, sinh năm 1936, mất năm 1974. Bà thừa hưởng tất cả nét đẹp từ dung mạo của cha đến giọng ca của mẹ. Cuối thập niên 50, trong cuộc bình chọn của báo chí, nghệ sĩ Thanh Hương sở hữu danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca” khi nghệ sĩ ÚT Bạch Lan đạt hạng nhì. “Bà từng chiếm lĩnh hầu hết các bộ dĩa tuồng, dĩa ca lẻ có giá trị nội dung và văn chương với tần suất tái bản, phổ biến được xếp thành hiện tượng.”[16]. “Lúc đó Thanh Hương và Út Bạch Lan là hai giọng ca nữ ăn khách nhất của sân khấu và của hãng dĩa. Sức hấp dẫn của giọng ca Thanh Hương là âm vực cao, tiếng rất trong trẻo, vang lộng, ngọt ngào mà khi ca những đoạn lâm ly thì nghe cũng rất mùi, rất êm tai. Giọng ca ngọt ngào của Thanh Hương để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng thính giả qua bản vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy”, mấy mươi năm trước, mẹ cô được nhắc mải với giọng ca ngọt ngào thiên phú qua bản vọng cổ Tình Mẫu Tử.”[17].

Đoàn Việt Kịch Năm Châu có đóng góp lớn cho sân khấu kịch, Cải lương, đây là một gia đình tài năng. Nghệ sĩ Năm Châu được xem như một nghệ sĩ hoàn hảo. Với tài diễn viên thì ông có ngoại hình đẹp, khả năng diễn xuất và giọng ca nam bậc nhất thiên hạ. Nghệ sĩ Tư Sạng thuộc diện nữ lưu có sắc lẫn thanh. Tuy diễn xuất phải xếp đào nhì, nhưng giọng ca thì giữ vị trí quán quân, vô địch thiên hạ, đệ nhất danh ca nữ mà trong Cải lương giữa diễn và ca thì ca hơn diễn. Nghệ sĩ Thanh Hương, tuy mất sớm, “tài cao, mệnh đoản”, nhưng trong công chúng bà vẫn là “đệ nhất danh ca”, như mẹ mình. Một dấu ấn sự nghiệp mà nhiều nghệ sĩ không có được.

Đoàn Thanh Minh – Thanh Nga.

Đoàn Thanh Minh được xếp vào một trong năm đại ban Cải lương của thời đại. Khi ghép tên Thanh Nga đoàn hát này sáng giá hơn, bởi nữ nghệ sĩ Thanh Nga, người được công chúng tôn vinh “Nữ hoàng sân khấu”, đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên năm 1958 khi mới 16 tuổi. Nghệ sĩ Thanh Nga có mẹ là bà bầu Thơ đam mê Cải lương, là nhà quản lí làm nên thương hiệu cho đoàn hát, có cha sau là nghệ sĩ nổi tiếng Năm Nghĩa. Ngoài ra, gia đình này còn tạo thêm một nghệ sĩ nổi tiếng khác là Bảo Quốc, một nghệ sĩ đa năng của kịch nghệ sân khấu, Cải lương. Nghệ sĩ Thanh Nga tên thật Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1942, mất năm 1978. Bà là một nghệ sĩ cải lương tài sắc nổi tiếng của Việt Nam, được mệnh danh “Nữ hoàng sân khấu”. Tuy đời hoạt động sân khấu ngắn ngủi, nhưng chị luôn là đào chính “ấn tượng” trong rất nhiều vở Cải lương nổi tiếng: “Sơn nữ Phà Ca (trong vở Người vợ không bao giờ cưới), Bàng Lộng Ngọc(trong vở Khói sóng tiêu tương), Bàng Quý Phi (trong vở Xử án Bàng Quý Phi), Điêu Thuyền (trong vở Phụng Nghi Đình), Dương Thái Chân (trong vở Chuyện tình An Lộc Sơn), Diệp Thúy (trong vở Đôi mắt người xưa), Kim Anh (trong vở Đời cô Lựu), Nga (trong vở Bông hồng cài áo), Giáng Hương (trong vở Sân khấu về khuya), Hoa Mộc Lan (trong vở Hoa Mộc Lan tùng chinh), Hương (trong vở Nửa đời hương phấn), Quỳnh Nga (trong Bên cầu dệt lụa), Thanh (trong vở Tấm lòng của biển), Trinh (trong vở Con gái chị Hằng), Trưng Trắc (trong vở Tiếng trống Mê Linh), Vân (trong vở Bóng tối và ánh sáng), Xuân Tự (trong vở Áo cưới trước cổng chùa), Xuyên Lan (trong vở Tiếng hạc trong trăng), Dương Vân Nga (trong vở Thái hậu Dương Vân Nga)…: “Thanh Nga là thần tượng của đại đa số công chúng mến mộ cải lương và của nhiều nghệ sĩ lớp sau. Đã 37 năm cô khuất bóng, người thương vô hạn. Cái chết của cô là một tổn thương thật lớn, bởi đâu phải một sớm một chiều sân khấu có thể sản sinh một nhân tài thượng thặng như vậy.”[18].

Kép Thanh Sang nhận định về tấm lòng nghệ sĩ Thanh Nga: “Điểm đáng quý ở Nga là không bao giờ lấn kép mà luôn làm sao để tạo cái hay cái đẹp cho cả hai vai, điều này ít nghệ sĩ nào có được.”[19].

Nghệ sĩ Năm Nghĩa, cha nuôi nghệ sĩ Thanh Nga, tên thật Lư Hòa Nghĩa, sinh năm 1911, mất năm 1959. Ông có năng khiếu cổ nhạc và giọng ca thiên phú, được sư Nguyệt Chiếu nhận dạy đờn ca tài tử. Khi bản “Dạ cổ Hoài Lang” của Cao Văn Lầu ra đời, Năm Nghĩa muốn chuyển sang nhịp 8 dài gấp đôi bản cũ, chữ đàn thay đổi cho mùi hơn. Cuối cùng ông hoàn thành bản “Dạ cổ” mới với mỗi câu 8 nhịp, là bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa”. Sau này, Vọng cổ phát triển thành nhịp 16, nhịp 32. Ngoài tài năng âm nhạc thầy đờn, “nghệ sĩ Năm Nghĩa là một diễn viên ưu tú, một đạo diễn giàu kinh nghiệm và là một soạn giả có tài với nhiều vở tuồng nổi tiếng: Chén cơm đô thành, Anh hùng trên chiến mã, Thầy cai tổng Bồi… Đặc biệt, ông có đóng góp lớn qua bài vọng cổ “Văng vẳng tiếng chuông chùa”, như người mở đường và tạo chỗ đứng cho bản Vọng cổ ngày nay.”[20]. Mặt khác, nghệ sĩ Năm Nghĩa có công trong việc dựng đoàn hát Thanh Minh Năm Nghĩa, sau thành Thanh Minh.

Bà bầu Thơ, mẹ ruột nghệ sĩ Thanh Nga tên thật Nguyễn Thị Thơ, sinh năm ?, mất năm 1988. Bầu Thơ được tặng mỹ danh l “bầu của những ông bầu” vì nhiều nghệ sĩ, đạo diễn, tác giả từ Đoàn Cải lương Thanh Minh – Thanh Nga tách ra và học theo cách làm của bà để điều hành gánh hát.[21].: “Bầu Thơ nghiêm khắc với nghề theo hai lẽ: gia đình có con cháu nối nghiệp thì chị phải là tấm gương và mỗi vở tuồng ra đời dưới “khai sanh” của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga phải là “con cưng” của khán giả”. Về nguyên tắc làm bầu, quản lý đoàn hát của bà bầu Thơ, NSND Ngọc Giàu ghi nhận: “Má[22] Thơ ghét nhất là sự trễ nải và đi hát mà không thuộc tuồng. Đối với đào kép hát, má ít khi khen, chỉ gật đầu mỉm cười. Hát hay thì má tự khắc tăng lương. Làm không được việc thì má thẳng thắn nói thời hạn hết hợp đồng để đào kép biết đường mà tính toán.”[23]

Nghệ sĩ Bảo Quốc, em khác cha với nghệ sĩ Thanh Nga, tên thật Lư Bảo Quốc, sinh năm 1949. Nghệ sĩ Bảo Quốc là kép nhà nòi, đoạt Huy chương vàng Thanh Tâm năm 1967, có cha là nghệ sĩ lớn, có mẹ là Bầu một đại ban, có chị là một “Nữ hoàng sân khấu”. Người ta biết Bảo Quốc ở nhiều vai diễn: vai Tấn trong Tấm lòng của biển, vai Y xì ke trong vở Bóng tối và ánh sáng, vai Chương Hầu trong Tiếng trống Mê Linh…, hay các vai hài trong Nửa đời hương phấn, Sân khấu về khuya… Anh được khán giả yêu mến và phong tặng danh hiệu “Đệ nhất danh hài”. Về thanh công của Bảo Quốc khi diễn hài, Phi Sơn viết: “Bảo Quốc diễn hài thành công do có duyên và thông minh. Cái cười toát ra từ tính cách nhân vật, anh chỉ là người khắc họa làm bật ra tràng cười, rất sôi động mà không lố bịch, thật thoải mái mà chẳng chút dung tục, sỗ sàng. Tài chọc cười trên sân khấu khó có đồng nghiệp nào qua mặt, nhưng ở ngoài đời anh chẳng phải tay láu cá. Trái lại, Bảo Quốc rất nghiêm túc, dễ thương…”[24].

Hai chị em nghệ sĩ Thanh Nga, Bảo Quốc
Hai chị em nghệ sĩ Thanh Nga, Bảo Quốc

Đoàn Thanh Minh có Thanh Nga là linh hồn của đoàn hát. Tài năng diễn, sắc đẹp, giọng ca trong trẻo, thơ ngây, tự nhiên, thiên phú và tấm lòng của chị đối với đoàn hát và khán giả luôn có sức thu hút mãnh liệt công chúng mê Cải lương mến mộ đoàn Thanh Minh. Chị ra đi ở tuổi đỉnh cao phong độ tài năng. Chị không bao giờ già trong công chúng. Chị luôn là “Nữ hoàng sân khấu” và mãi được công chúng yêu mến. Ngoài chị, có nghệ sĩ Năm Nghĩa và bà bầu Thơ, và nghệ sĩ Bảo Quốc có biệt tài và danh hiệu “Đệ nhất danh hài”. Gia đình này góp phần làm nên một thời đỉnh cao của sân khấu Cải lương.

Gia đình chị em Năm Phỉ – Bảy Nam.

Trong gia đình Nam Bộ quê ở Tiền Giang, người cha không muốn con cái theo nghiệp cầm ca. Nhưng bà mẹ, mê Cải lương nên ngấm ngầm tiếp sức cho con. Do vậy gia đình này có tới 4 người theo nghiệp sân khấu. Trong đó có hai tên tuổi lớn là cô Năm Phỉ và cô Bảy Nam. Nghệ sĩ Năm Phỉ[25] tên thật Lê Thị Phỉ, sinh năm 1908, mất năm 1954. Khoảng năm 1925, khi về với gánh Phước Cương[26], danh tiếng của cô Năm càng vang dội vì giọng ca thiên phú và tài diễn xuất độc đáo của cô qua nhiều vai: “Phụng Nghi đình, Xử án Bàng Quý Phi, Lan và Điệp, Tơ vương đến thác, Tứ đổ tường…” đã chiếm được cảm tình của nhiều thế hệ khán giả những năm 1930, gánh Phước Cương ra Hà Nội biểu diễn. Khán giả Hà Nội đặc biệt mến mộ cô với các vai diễn: “Tơ vương đến thác, Sắc giết người…[27]”. Đặc biệt, vai diễn Bàng Quý Phi trong vở tuồng “Xử án Bàng Quý Phi”, tại Pháp năm 1931, cô Năm Phỉ nhận được 4 huy chương[28], 186 bức thư và 1.009 danh thiếp của khán giả mến mộ gửi tặng. Chụp 167 kiểu ảnh, 42 bài báo ca ngợi và 230.000 đồng tiền thù lao (tương đương ngàn lượng vàng)[29]. “Không biết những con số này chính xác đến đâu, nhưng chắc chắn một điều là sự tưởng thưởng của công chúng say mê nghệ thuật cổ truyền dành cho cô đào Mỹ Tho Năm Phỉ có tài năng đặc biệt trong ca diễn là không nhỏ.”[30]

Cô Năm Phỉ (ảnh trái) cùng với bạn diễn cô Phùng Há (ảnh chụp năm 1931)
Cô Năm Phỉ (ảnh trái) cùng với bạn diễn cô Phùng Há (ảnh chụp năm 1931)

Nghệ sĩ Bảy Nam, tên thật Lê Thị Nam, sinh năm 1913, mất năm 2004. Ngoài danh hiệu nghệ sĩ, bà được biết đến với cương vị nữ bầu gánh đầu tiên trong lịch sử cải lương, là nữ tác giả kịch bản đầu tiên của Sài Gòn với nhiều kịch bản: Điều Tam Xuân, Gươm vàng máu đỏ, Người đàn bà Việt Nam, Nỗi đau lòng mẹ, Phấn hậu cung, Tiêu Anh Phụng…Giáo sư Hoàng Như Mai viết: “Nghệ sĩ sân khấu, nếu thật sự là nghệ sĩ tài năng, là bảo vật vô giá của nhân loại, không vàng ngọc nào sánh được. Nghệ sĩ Bảy Nam là một trong số quí hiếm ấy”[31]. Hoài Hương nhận xét: ““Nghề hát không phải là một nghề như buôn bán, và nếu nhờ đi hát mà có cơm ăn áo mặc thì cũng chỉ là chuyện thứ yếu mà thôi… Riêng tôi cảm nhận một tiếng rất hợp lòng mình, đó là cái nghiệp”. Nếu có “tuyên ngôn”, thì theo bà cái nghiệp “vinh quang và cay đắng thường quyện chặt vào nhau.”[32].

Gia đình hai chị em nghệ sĩ lớn đất Tiền Giang, Năm Phỉ và Bảy Nam, số mệnh trong đời thì đối lập nhau, nhưng sự nghiệp sân khấu Cải lương thì mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Cô chị Năm Phỉ tuy ngắn số, nhưng thành tích của một đào chính thì lẫy lừng. Cô được tài năng trời phú trong ca lẫn diễn nên làm say mê công chúng mọi thời điểm. Bà có công làm cho sân khấu Cải lương được biết đến không chỉ ở phạm vi Nam Bộ mà mở rộng ra cả nước và một số nước khác. Cô em Bảy Nam thì trường thọ. Sự nghiệp của bà không chỉ dừng lại ở sân khấu Cải lương mà mở rộng sang địa hạt phim ảnh và sân khấu kịch. Tuy nghiệp đào không được nổi tiếng bằng cô chị, nhưng tài năng của bà đa dạng hơn, bởi bà còn là soạn giả và kiêm cả vai trò của một bầu gánh. Cả hai đều có đóng góp lớn cho sự nghiệp văn hóa Cải lương Việt Nam.

Gia đình nghệ sĩ Thanh Tòng.

Nghệ sĩ Thanh Tòng là một nghệ sĩ lớn của thế kỉ XX, xuất thân trong một gia đình truyền thống nhiều đời với nhiều thành viên tham gia sân khấu. Ông đã tạo được sự nghiệp vẻ vang cho chính mình và đến thế hệ con cháu của ông thì cũng tạo được tiếng vang, như nghệ sĩ Quế Trân, con ông và nghệ sĩ Bạch Lê, Thành Lộc, Bạch Long, Trinh Trinh, Tú Sương…, cháu ruột gọi ông bằng cậu: “NSND Thanh Tòng thuộc thế hệ thứ ba của đại gia đình Cải lương tuồng cổ nổi tiếng ở miền Nam. Ông nội là bầu Thắng, thân sinh là nghệ sĩ Minh Tơ, cháu ruột nghệ sĩ Khánh Hồng, Đức Phú, chị ruột là nghệ sĩ Xuân Yến, em ruột là nghệ sĩ Thanh Loan, nhạc sĩ Minh Tâm, Công Minh, Thanh Sơn… Các nghệ sĩ Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc, đạo diễn Phượng Hoàng… là em cô cậu ruột, Chí Bảo em chú bác, Tú Sương, Trinh Trinh, Thanh Thảo… là cháu ruột gọi ông bằng cậu. Tất cả đều xuất thân từ cái nôi Cải lương Hồ Quãng, Cải lương tuồng cổ.”[33]. Riêng Thanh Tòng, tên thật Nguyễn Thanh Tòng, sinh năm 1948 tại Sài Gòn. Ông được biết đến như một nghệ sĩ đa năng: “Thanh Tòng theo nghề năm 3 tuổi. Mười một tuổi được các ký giả Sài Gòn thời đó như Văn Thà, Tình Thiệt, Phong Vân, Hoài Ngọc… phong cho danh hiệu “thần đồng sân khấu”. Khi ông đóng những vai lão, vai Trịnh Ân, vai Bao Công, vai Quan Công… rồi giả gái đóng Điêu Thuyền, Hồ Nguyệt cô… Ông là người con, là đệ tử chân truyền của nghệ sĩ Minh Tơ. Ba ông cho ông học đóng tất cả các loại vai văn, võ trung, nịnh, lão, độc, mùi, đào văn, đào võ là để đào tạo ông trở thành nghệ sĩ đa năng, toàn diện.”[34]. Phi Sơn viết: “Trên sân khấu, Thanh Tòng đã chứng tỏ khả năng của anh qua các vở diễn Cải lương, mà căn bản vũ đạo bên tuồng cổ giúp Thanh Tòng thành công hơn trong vai Chu Phác Viên (vở Lôi Vũ). Khán giả đã xúc động mãnh liệt ở màn cuối, khi Chu Phác Viên đứng trước thảm họa gia đình.”[35].

Cha con nghệ sĩ Thanh Tòng, Quế Trân
Cha con nghệ sĩ Thanh Tòng, Quế Trân

Lớp nghệ sĩ con cháu của nghệ sĩ Thanh Tòng có:

1. Quế Trân sinh năm 1981, có nhiều vai diễn thành công với nhiều dạng khác nhau từ tuồng cổ đến màu sắc, lịch sử, xã hội… ở các vai: Phương Thảo, Phượng, Công chúa Thiên Kiều, Công chúa Phi Long, Công chúa Bích Vân, lần lượt trong các vở: “Nhảy múa với quỷ dữ, Con mắt thời gian, Trắng hoa mai, Xử án Bàng Quý Phi, Bên cầu dệt lụa…”.

2. Bạch Lê sinh năm 1951, được đào luyện trong lớp đồng ấu Minh Tơ, nổi danh trong vai Quách Hải Thọ, tuồng Bao Công xử án Quách Hoè. Trước năm 1975, nữ nghệ sĩ Bạch Lê là một diễn viên Hồ Quảng được khán giả và giới báo chí kịch trường ái mộ. Sau năm 1975, Bạch Lê hát vai đào chánh trong đoàn Cải lương tuồng cổ Minh Tơ, nổi danh qua vai Thượng Dương Hoàng Hậu tuồng Câu Thơ Yên Ngựa.

3. Thành Lộc sinh năm 1961, được biết đến như một diễn viên sân khấu Cải lương với các vai diễn: vai Lý Đạo Thành trong vở Câu thơ yên ngựa, tuồng cổ lịch sử Việt Nam; vai Triệu Khuông Dẫn, trong tích tuồng Tàu, theo phong cách cải lương Hồ Quảng trong vở tuồng Đào Tam Xuân báo phu cừu.

4. Bạch Long được biết đến như người thầy có công đào tạo lớp diễn viên sân khấu Cải lương tài năng, như: Quế Trân, Vũ Luân, Tú Sương, Trinh Trinh…

5. Tú Sương sinh năm 1977, đã có những vai diễn đi sâu vào lòng khán giả: Bạch Nương trong “Tình Người Kiếp Rắn”, Trưng Trắc trong “Trưng Trắc Đề Cờ”, Lữ Bố trong “Phụng Nghi Đình”… Đặc sắc nhất là vai Bao Công trong “Bích Vân cung kỳ án”. đòi hỏi nghệ sĩ phải có kinh nghiệm cả về diễn xuất, hát và vũ đạo[36].

Đại gia đình nghệ sĩ Thanh Tòng là một gia đình tiêu biểu có nhiều thế hệ và thành viên đóng góp cho nghệ thuật sân khấu Cải lương, sân khấu Cải lương Hồ Quảng nói riêng. Về phương diện Cải lương Hồ Quảng, cải lương Tuồng cổ, nghệ sĩ Thanh Tòng và nghệ sĩ Bạch Lê là những nghệ sĩ đã có đóng góp lớn. Tên tuổi họ đã được công chúng mê Cải lương Hồ Quảng biết đến trước những năm 1975. Đặc biệt nghệ sĩ Thanh Tòng, khi tham gia vở diễn, ông không chỉ đóng vai kép chính, mà thường sau những vở diễn để đời được công chúng nhắc đến, bao giờ cũng có sự đóng góp “thầm lặng” của ông hoặc là với vai trò tác giả kịch bản hay đạo diễn. Thế hệ sau ông được trang bị kỹ càng những kiến thức tuồng cổ nên Quế Trân và Tú Sương cũng có những vai diễn được công chúng hết sức mến mộ. Hai nghệ sĩ trẻ này có chỗ đứng trong lòng khán giả, được sự yêu mến của người hâm mộ qua nhiều vai diễn như Tú Sương trong các vai: Bao Công trong vở Bích Vân cung kỳ án, Lữ Bố trong vở Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Chức Nữ trong vở Đả chiến phá Sông Ngân, Mỵ Châu trong vở Trọng Thuỷ – Mỵ Châu; hoặc Quế Trân trong các vai công chúa: Bích Vân trong vở Bên cầu dệt lụa, Phi Long trong vở Xử án Bàng Quý Phi, Thiên Kiều trong vở Trắng hoa mai,

Truyền thống gia đình là môi trường tốt để các thế hệ tiếp nối sự nghiệp.

Sân khấu Cải lương dù có lúc thịnh suy, nhưng truyền thống của những gia đình theo nghiệp sân khấu luôn có công “giữ lửa” cho phong trào. Không có những cá nhân, gia đình bền chí cho sự đam mê thì không thể có tiến trình 100 năm sân khấu Cải lương. Có được thành tựu văn hóa dân tộc về lĩnh vực sân khấu Cải lương như ngày hôm nay, cần tôn vinh và tạo điều kiện cho những cá nhân, đặc biệt là những gia đình theo nghiệp Tổ phát triển sự nghiệp, đặc biệt là ở những ngành nghề có nguy cơ biến mất trong xã hội.

Chú thích:

[1] Bộ VH-TT-DL và UBND TP.HCM đã tổ chức trọng thể Lễ đón bằng của UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tối 11/2/2014, tại Hội trường Thống Nhất TP.HCM.
[2] Lê Thị Hiếu Dân, Báo Cà Mau, ngày 25/02/2011, http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=13681, cập nhật ngày 05/8/2015.
[3] Vương Hồng Sển, Hồi kí 50 năm mê hát, 50 năm Cải lương, NXB. Trẻ, 2007, tr. 47.
[4] Trần Phước Thuận, Nhạc sĩ, Danh cầm Ba Chột, Nhạc Tài tử và sân khấu Cải lương Nam Bộ, http://www.conhacvietnam.com/diendan/viewtopic.php?f=12&t=473
[5] Lê Ái Siêm, Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu Cải lương, Sở Thông tin Truyền thông, 2014, tr. 73.
[6] GS.TS. Trần Văn Khê, Nguyễn Tri Khương, https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Tri_Kh%C6%B0%C6%A1ng
[7] Phạm Thị Hương, Báo Ấp Bắc, http://vannghetiengiang.vn/news/Tac-gia-Tac-pham/Nguyen-Tri-Khuong-voi-vo-cai-luong-Giot-le-chung-tinh-6377/
[8] https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Ng%E1%BB%8Dc_Vi%E1%BB%87n
[9] Vương Hồng Sển, Hồi kí 50 năm mê hát, 50 năm Cải lương, NXB. Trẻ, 2007, tr. 26-27.
[10] Vương Hồng Sển, Hồi kí 50 năm mê hát, 50 năm Cải lương, NXB. Trẻ, 2007, tr. 27.
[11] https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Kh%C3%AA
[12] Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, NXB Trẻ, 2004, tr. bìa 4.
[13] https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Quang_H%E1%BA%A3i
[14] http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20140309/thay-nam-chau/597137.html
[15] https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_S%E1%BA%A1ng
[16] http://giadinh.net.vn/giai-tri/nhung-nu-nghe-si-viet-tai-sac-ven-toan-nhung-bac-menh-20150527135734913.htm
[17] Nguyễn Phương, Đệ nhất nữ danh ca Thanh Hương, http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ActressThanhHuong_NPhuong-20060603.html
[18] http://sankhaucailuong.com/news/Chan-dung-nghe-si/THANH-NGA-Huyen-thoai-bat-tu-7590/
[19] Phi Sơn, Những ngôi sao sân khấu Cải lương, NXB TP. HCM, 1993, tr. 10.
[20] http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=12349
[21] http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/san-khau/20120906/gia-dinh-bau-tho-san-khau-la-chiec-noi/510130.html
[22] Cách gọi thân mật của các nghệ sĩ đối với bầu Thơ
[23] http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/bau-tho-nguoi-khoi-dau-20140228212424966.htm
[24] Phi Sơn, Những ngôi sao sân khấu Cải lương, NXB TP. HCM, 1993, tr. 64.
[25] Tên của bà được người cha chủ ý đặt theo thứ tự câu chữ nối liền với tên ông, Lê Tấn Công, cho 11 người con: “Công, Thành, Danh, Toại, Phỉ, Chí, Nam, Nhi, Bia Truyền, Tạc, Để”. Như vậy, Năm là thứ tự của bà, tính theo cách gọi Nam Bộ, khởi đầu không có thứ Cả, mà chỉ có thứ Hai. Cách gọi tên thứ là gọi theo cách gọi miền Nam thể hiện sự thân tình, quý mến, xem như người trong gia đình. Còn “Phỉ” là thỏa, hài lòng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, thường dùng trong quán ngữ: “phỉ chí bình sinh, phỉ chí tang bồng”.
[26] Gánh do ông Nguyễn Ngọc Cương thành lập, gánh có sở trường diễn tuồng Tàu.
[27] Lê Ái Siêm, Tiền Giang và nghệ thuật sân khấu cải lương, Sở VH-TT&DL, Tiền Giang, 2013, tr. 100.
[28] Theo Dương Đức, sinh thời, cô Năm Phỉ từng là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được Vua Bảo Đại tặng Huy chương Kim Tiền. Trong các chuyến lưu diễn tại nước ngoài (như Pháp, Lào, Thái Lan, Campuchia…), bà cũng nhận được nhiều huy chương, http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/tulieuvanhoa/2011/6/56141.cand.
[29] Theo Lê Thị Hiếu Dân, báo Cà Mau, http://baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=12856
[30] Huỳnh Công Tín, Lê Thị Phỉ, Một số nhân vật đất phương Nam, NXB Hồng Đức & TC Xưa & Nay, 2014, tr. 615.
[31] http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/san-khau/20040819/nsnd-bay-nam-vi-to-song-cua-cai-luong-nam-bo-qua-doi/45427.html
[32]Hoài Hương, NSND Bảy Nam vị tổ sống của cải lương Nam bộ qua đời!, http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/san-khau/20040819/nsnd-bay-nam-vi-to-song-cua-cai-luong-nam-bo-qua-doi/45427.html
[33] http://www.nguoithanhdat.com/nghe-si-cai-luong-tuong/114-nsnd-thanh-tong-vi-thong-soai-cua-cai-luong-tuong-co.html
[34] http://tranquanghai.info/p1028-dang-minh%3A-nsnd-thanh-tong%3A-vi-thong-soai-cua-cai-luong-tuong-co.html
[35] Phi Sơn, Những ngôi sao sân khấu Cải lương, NXB TP. HCM, 1993, tr. 78.
[36] http://clvn.vn/forum/viewtopic.php?t=43776
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, NXB Trẻ, 2004.
2. Vương Hồng Sển, Hồi kí 50 năm mê hát, 50 năm Cải lương, NXB. Trẻ, 2007.
3. Lê Ái Siêm, Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu Cải lương, Sở TT & TT, 2014.
4. Phi Sơn, Những ngôi sao sân khấu Cải lương, NXB TP. HCM, 1993.
5. Nhiều tác giả, Một số nhân vật đất phương Nam, NXB Hồng Đức, TC Xưa – Nay, 2014.
6. http://giadinh.net.vn
7. http://nld.com.vn
8. http://sankhaucailuong.com
9. http://tranquanghai.info
10. http://tuoitre.vn
11. http://vannghetiengiang.vn
12. http://vi.wikipedia.org
13. http://vnca.cand.com.vn
14. http://www.baocamau.com.vn
15. http://www.conhacvietnam.com
16. http://www.nguoithanhdat.com
17. http://www.rfa.org


 

Comments

comments

You May Also Like

%d bloggers like this: