Mỗi ngày 20 hình – Bồn Binh & Tượng chỉ còn là dĩ vãng – 3

10847684_767160603372430_8142844368577265261_o (1)

Saigon 1967-1968 – Tượng đài “Tổ quốc – Không gian” phía trước Tòa Đô chánh.

Năm 1966, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, làm nhân dịp kỷ niệm ngày 01/11/1966 … binh chủng Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc.


 

5220412602_8637f46871_o

Đại sảnh của Bưu Điện Sài Gòn – Nữ thần tự do. Đại sảnh của một công thự … Một công trình kiến trúc đong đầy những nét tinh tế của hai nền văn hóa Đông-Tây … Ngay cái thùng thư bình thường với mọi người cũng được kiến tạo với những đường nét thật mỹ thuật …. những đường nét chạm …. lộng …. tạo tác thật công phu và tinh xảo …. hợp cùng những trang trí khác của tòa nhà đã khiến đó không chỉ là một công thự bình thường … Mà còn là một mẫu hình của sự hòa hợp phát triển giữa kinh doanh và tính chất văn hóa …. Đáng tiếc nhứt là tấm bản đồ mạng lưới điện báo Nam Kỳ và Cao Miên … với những hoa văn trang trí xung quanh … nay đã hoàn toàn biến mất … Nguyên nhân do sự ấu trĩ của con người … Miền Nam thì cực đoan … “bài Phong đả Thực” … Miền Bắc thì xuẩn động trong “cách vật trí tri” … Tất cả đã khiến cho nơi đây nay chỉ còn là một chỗ … “coi để tiếc” ….


841102_582544765167349_1714228875_o

Saigon 1966 – Tượng đài An Dương Vương.
Tượng này lúc xưa đặt tại Bến Chương Dương, trước Hội trường Diên Hồng.


10177950_630399900381835_4726054754677398866_n

Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom và Pellerin (ngày nay là giao lộ Lê Duẩn – Pasteur). Sau đó khi kinh đào Charner bị lấp để trở thành Đại lộ Charner, và Chợ cũ ở ĐL Charner bị dỡ bỏ, thì khu đất Chợ cũ được cải tạo thành Quảng trường Gambetta, với tượng đài Gambetta được dời về đây
Quảng trường Gambetta (còn được gọi là Quảng trường Chợ cũ) nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Boulevard CHARNER (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là Rue GEORGES GUYNEMER (sau này là Võ Di Nguy, rồi Hồ Tùng Mậu), 


 

10247446_629916790430146_6025559738319344109_n

Saigon – Tượng đài Francis Garnier cuối thế kỷ 19. Khu vực xung quanh tượng đài này cũng mang tên Francis Garnier, và đây chính là công viên trước Nhà hát thành phố ngày nay.

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25/7/1835? – 21/12/1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873.


 

10262188_630404920381333_3773490235828789067_n

Saigon – Tượng linh mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh phía trước Nhà thờ Đức Bà.

Vào năm 1903, trong khuôn viên vườn hoa trước nhà thờ lớn Sài gòn, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Adran vì Đức cha làm Giám mục với hiệu toà Adran) dẫn Hoàng tữ Cảnh (con vua Gia Long) với ý là ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình đức cha Adran với phẩm phục Giám Mục, tay phải dẫn Hoàng tử Cảnh, tay phải cầm Hiệp ước Versailles năm 1787.. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “Hai hình” để phân biệt với tượng “Một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào ở trên sau đó năm 1959 người ta dựng tượng Đức Mẹ lên trên bệ này.


1973349_628335640588261_5921029558768408380_o

Saigon 1969 – Tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký phía sau Nhà thờ Đức Bà Saigon. Hiện nay, tượng này đã được di dời về trong khuôn viên của Bảo tàng Mỹ thuật thành phố trên đường Phó Đức Chính.


1965428_600519123369913_1915598243_o

Saigon 1968 – Tượng đài “Chiến sĩ Vô danh” giữa ngã tư Hồng Bàng-Tổng Đốc Phương.


1974124_612115585543600_1502933306_o

Saigon 1971 – Tượng đài Thủy quân lục chiến trên đường Lê Lợi


1503370_572524542836038_1275629165_nxe-c491ien-te1bbab-hc3a0m-nghi-ve1bb81-lc3aa-le1bba3i

Tượng tướng Trần Nguyên Hãn tại vòng xoay Quách Thị Trang. Chợ Bến Thành


1462786_562417800513379_1497723115_o

Saigon 1971 – Tượng An DươngVương trước Hội trường Diên Hồng, Bến Chương Dương. Tượng này ngày nay được đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố – nhà chú Hỏa. Chỉ cần đi dọc đường Phó Đức Chính là bạn có thể thấy bức tượng này.


quachdam

Tượng ông Quách Diệm trước Chợ Bình Tây nay đã nằm trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật thành phố – đường Phó Đức Chính.
Thực ra, ông Quách Đàm – người có công xây dựng chợ Bình Tây – lại không phải tên là Đàm. Tên thật của ông chính xác là Diễm (hay cũng gọi là Diệm).
Về sự lầm lẫn này có thể từ một trong hai nguyên nhân: một là nhìn lầm mặt chữ, có thể là do người Việt đầu tiên đã sơ ý nhìn chữ Diệm ra chữ Đàm rồi phiên âm sai, vì chữ Diệm dễ lầm với mấy chữ Đàm như sau: (đàm, viết lối hành thư), (đàm), (đàm), (đàm); hai là nghe lầm âm, việc này có thể do người Pháp ký âm và viết tên Quách Diệm là Quach Dam (Quach-dam) bởi nghe người Triều Châu phát âm Diệm là “iam”, gần như âm Đàm.
Trên những văn bản chữ Hán do các học giả Hoa kiều ở Chợ Lớn như Lý Văn Hùng, Thi Đạt Chí… viết trong khoảng 1950-1960 đều viết Quách Diệm, trong Hoa kiều chí – Việt Nam (Đài Bắc, 1958) và Quảng Đông tỉnh chí – Hoa kiều chí (1996) đều viết tên là Diệm, tiểu sử nhân vật này trong các sách kể trên đều không nói Quách Diệm còn có tên khác là Đàm.
Tượng Quách Diệm xưa được đặt ngay giữa chợ Bình Tây, sau năm 75 tượng bị cất trong một nhà kho của Phòng văn hoá thông tin quận 6, tới năm 2003 thì được đem trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật cho tới nay.


1469797_547502132004946_1111366663_n

Saigon 1953-1954 – Thánh lễ diễn ra tại một nhà thờ ở vùng đất Gia Định những năm 1953-1954. Bức tượng trong hình là tượng của Tổng lãnh thiên thần Micae – thánh tổ của Binh chủng nhảy dù xưa. không biết bức tượng trong Nhà thờ Thánh Mẫu- Gia định có phải là bức tượng này không?


10010128_629164523838706_7456420442805745504_o

monorail-cong-trc6b0c6a1ng-me-linh-copy
Công Trường Mê Linh , thời Pháp Rigault de Genouilly

  Các đoàn viên của tổ chức Thanh nữ Cộng hòa diễu hành ngang qua tượng Hai Bà Trưng tại Công trường Mê Linh. Tượng Hai Bà Trưng được xây dựng dưới sự chỉ đạo của bà Trần Lệ Xuân, người ta đồn đại rằng bức tượng này được tạc dựa trên hình mẫu của hai mẹ con bà Xuân. Sau sự kiện đảo chính 1963, người ta đã cho giật sập bức tượng này. Sau đó, tại vị trí này, vào năm 1967, binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho xây dựng tượng tướng quân Trần Hưng Đạo như ngày nay.


2rz4co1

Cảnh Sát đặt nhân viên đứng thao diễn nghỉ tại bùng-binh Ngã 6 Cộng Hòa giao điểm của đường Nguyễn Hoàng, Hùng Vương, Lý Thái Tổ, Nguyễn Thiện Thuật, Hồng Thập Tự và Phạm Viết Chánh


25t7q6a

Tổng lãnh thiên thần Micae: Thánh Tổ Binh chủng Nhảy Dù Tượng thánh Micae trước bệnh viện Triều Châu nay là bv An Bình 


2hz2syq

6fw4yv
Tượng Biệt Động Quân – Ngã Bảy Lý Thái Tổ – Minh Mạng – Phan Thanh Giản

10882161_780536982034792_2784599332545049241_n

10259766_629156263839532_776495481704344839_n4r

Công trường chiến sĩ trận vong với tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng và một hồ nước nhỏ được xây dựng năm 1927 để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Sau đó, công trường này mang tên Thống chế Joffre (1852-1931), người từng cầm quân xâm lược nước ta ở Bắc Kỳ. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì tượng này cũng bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.  Sau này là công trường Hồ con rùa..


1923914_1055137611175173_5710362229865243610_n

 

Sài Gòn - 1969 Bùng binh (Bồn Binh) Nguyễn Huệ - Sau cơn mưa trời lại sáng
Khanh Hiep: Sài Gòn – 1969 Bùng binh  Nguyễn Huệ – Sau cơn mưa trời lại sáng

Bồn kèn sau này là bồn binh Nguyễn Huệ, Thời Pháp là nơi trình diễn nhạc Tây. 

Bong Nguyen Trên đường Nguyễn Huệ bốn làn xe hai bên trong giữa lề và 36 kios là của xe gắn máy , giữa hai bên kios chia hai làn xe ôtô lên xuống . Lúc nào đường này cũng đông xe .

Lương Quốc Thành nhớ dãy kios này lắm, hồi nhỏ hay đạp xe ra đây chơi và sang băng cassete.

Thạch Anh Tiếc thay! Giá như sg nghèo như hàn quốc ngày xưa thì có lẽ đã k bị đánh cắp rồi


 

Tượng thương tiếc
Tượng thương tiếc- Nghĩa trang quân đội

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

ĐKG. Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó Tổng thống Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

ĐKG. Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG. Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phát họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghĩ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, Đ KG.Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân mắt quắc tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai . Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phát họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận. Phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phát họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phát họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phát họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phát họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống .”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phát họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như 1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn , 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương 

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.


 

Comments

comments

Xem Thêm